Có hai vợ chồng nhà nọ yêu nhau rất mực. Ngày mới lấy nhau, họ đã từng ăn
thề hẹn không bỏ nhau. Nếu không may một trong hai người chết đi thì người
kia sẽ chết theo để xuống âm ty cho có bạn.
Sau đó không bao lâu, người vợ trẻ tự nhiên bị thần chết mang đi một cách đột
ngột. Không ai có thể tả được hết tình cảnh đau thương của người chồng. Anh
chàng đã mấy lần toan tự tử, nhưng bị người nhà ngăn trở và canh phòng ráo
riết. Hôm sắp sửa cất đám bỗng có một đạo sĩ đến bày cho chàng phép cải tử
hoàn sinh mà theo lời ông ta, đã từng có nhiều người dùng rất ứng nghiệm. Phép
của ông ta chẳng có gì khó, chỉ cần người sống gan dạ và kiên trì một chút là
được. Nghĩa là người sống mỗi ngày ba lần ôm ấp và truyền hơi ấm của mình
vào cho tử thi. Làm luôn như thế không nghỉ ngày nào thì chỉ trong khoảng ba
tháng mười ngày là người chết sẽ sống lại.
Người chồng cảm ơn đạo sĩ và làm đúng như lời dặn, hi vọng đưa người yêu
trở lại cõi thế. Ngày ngày chàng ôm ấp vợ, truyền sức nóng, hơi thở của mình
vào cái xác đã lạnh toát.
Nhưng sau đó ba ngày, mùi thối của tử thi bay ra khắp xóm làm cho mọi
người không chịu được. Họ kéo nhau đến nhà bắt chàng phải chôn lập tức.
Bất đắc dĩ, người chồng nhờ xóm giềng chặt nứa làm giúp một cái bè để mình
đưa xác vợ đi một nơi khác. Nhiều người vui lòng giúp anh chàng trong việc
này. Chỉ trong nửa ngày, hắn đã chở xác người yêu đi biệt.
Chiếc bè theo dòng nước trôi mãi. Người chồng vẫn ngày ngày ấp ủ vợ không
thôi. Cái tử thi đó trông vẫn như người nằm ngủ. Lòng anh chàng tràn trề hi
vọng. Đến một nơi kia, hắn cắm bè lại kề một bãi cỏ rộng, lên bộ nấu ăn.
Tình cờ trong khi đi nhặt củi chàng ta gặp một cụ già. Nhìn thấy ông cụ chống
gậy đi một mình giữa cảnh trời nước hoang vu, lại râu tóc trắng xóa, hình dung
không có gì là lam lũ, chàng trẻ tuổi lấy làm ngạc nhiên. Hắn đang suy nghĩ thì
thoáng cái ông cụ đã đứng trước mặt. Hiểu ngay đó là bậc Tiên Phật, hắn vội
phục xuống chân cụ già rồi kể lể sự tình, cuối cùng không quên cầu khẩn ông cụ
sinh phúc giúp cho vợ mình sống lại. Cụ già đó chính là đức Phật, thấy anh
chàng nài nỉ hết sức, bèn thương tình, đi theo xuống bè, bảo hắn chích máu ngón
tay nhỏ ba giọt vào miệng vợ. Tự nhiên người đàn bà mấp máy môi rồi từ từ
ngồi dậy như vừa tỉnh một giấc mơ. Trước khi ra về đức Phật có hỏi người vợ:
- Anh chàng này cho vay ba giọt máu để ngươi được hồi sinh. Vậy nhà người
có yêu anh ta chăng?
Trước câu thề thốt chắc nịch của người đàn bà, đức Phật bảo: - Không can gì. Nếu không yêu nữa thì chỉ việc trả lại ba giọt máu cho anh ta
là đủ!
Thấy bọn họ nóng lòng muốn trở về quê hương, đức Phật gọi một con cá sấu
khổng lồ từ vực sâu lên bảo chở họ đi.
Cá sấu vượt sông được nửa ngày đường thì bụng đã đói. Nó bảo hai vợ chồng
lên bộ nghỉ ngơi để cho nó đi tìm cái ăn. Hai vợ chồng dắt nhau vào quán cơm.
Trong quán hôm đó có một người khách thương sang trọng. Hắn ta thấy nhan
sắc người vợ diễm lệ ít ai sánh kịp thì bỗng nảy tà dâm, mưu toan chiếm đoạt.
Hắn lân la lại gần, đưa các mẫu hàng tơ lụa và đồ trang sức ra vờ chào khách, kỳ
thực là để tán tỉnh người đàn bà đẹp. Hắn nói trong thuyền hắn đậu ở gần đấy
còn có nhiều món hàng nữa rất quý và rẻ, muốn mời họ xuống xem.
Nhưng người chồng thì chẳng thiết một tý nào. Cơm nước xong, bỏ mặc người
khách thương, dắt vợ ra bến vắng, ở chỗ hẹn với cá sấu, ngồi đợi. Họ ngồi dưới
bóng cây trò chuyện một chốc rồi vì mệt quá, ngủ quên lúc nào không biết. Họ
cũng chẳng ngờ sau lưng họ, người khách thương kia vẫn theo hút không rời.
Khi thấy hai người nằm ngủ, hắn đi nhẹ đến thức riêng người vợ dậy, mời nàng
xuống thuyền đậu kề đó để hắn biếu một món trang sức; - “Thuyền của tôi chỉ
cách đây mươi bước. Bà không phải đợi lâu đâu!”. Nghe nói thế, lòng người đàn
bà bỗng thấy lay chuyển. Nàng đứng lên, đi theo người khách thương xuống
thuyền. Chỉ trong nháy mắt, theo ám hiệu của chủ, bọn thủy thủ chiếc thuyền
buôn nhổ neo và giong buồm cho thuyền chạy mất.
Lại nói chuyện cá sấu lúc ngoi lên chỗ hẹn thì thấy chỉ có một mình người
chồng, bấy giờ vẫn đang ngủ say. Cá sấu thức chàng dậy hỏi chuyện. Anh ta ngơ
ngác không hiểu thế nào. Một mất mười ngờ, hắn đổ tội cho cá sấu đã ăn thịt
mất vợ. Để giải mối ngờ, cá sấu mới bảo hắn kiếm cây luồn qua miệng mình,
khua trong dạ dày xem thử cho biết. Anh chàng làm theo, chỉ thấy trong bụng cá
sấu toàn là xương cá và đá cuội, mới biết mình ngờ sai. Tìm khắp mọi nơi chẳng
thấy vợ, hắn trở về bến, ôm đầu kêu khóc rất thảm thiết. Cá sấu thương tình bèn
bảo hắn cưỡi lên lưng rồi phóng đi, đuổi theo những chiếc thuyền vừa qua lại để
dò tìm tung tích. Sau mấy lần dò hỏi, người ta cho biết một chiếc thuyền buôn
vừa đi qua, trong đó có một người đàn bà trẻ và đẹp. Họ tả nét mặt và hình dạng
thì đúng là vợ chàng. Cá sấu bèn cố công đuổi riết.
Khi nhìn thấy vợ ngồi trong thuyền khách thương, người chồng nói với vào:
- Nàng cứ nhảy ra đây… Tôi không thể sống xa nàng được… Tôi sẽ làm cho
nàng sung sướng…
Nhưng người vợ trả lời chồng: - Chàng về đi! Em đành phụ chàng. Chàng tha thứ cho em vậy.
Rồi đưa cho chồng một gói vàng: - Chàng hãy nhận lấy vật này và coi như em đã chết từ hôm nào rồi.
Vừa bực tức vừa thất vọng, chồng ném gói vàng xuống nước rồi nhờ cá sấu
đưa mình trở lại tìm đức Phật. Khi đức Phật gặp bọn họ, liền giục cá sấu hối hả
rượt theo chiếc thuyền khách thương để cho anh chàng thất tình đòi lại ba giọt
máu của mình.
Lại nói chuyện người đàn bà sau khi chích máu ở tay để lấy ra ba giọt trả nợ
cho chồng thì ngã vật xuống chết ngay. Người khách thương hết sức chữa chạy
nhưng vô hiệu. Rồi sau đó hắn ném xác nàng xuống biển. Nhưng do phép màu
của đức Phật, người đàn bà ấy hóa thành con muỗi. Vì thiếu máu, nên lúc nào
muỗi cũng lén lút đi chích trộm của mỗi người một tý để sống. [1]
Theo Lăng-đờ (Landes). Sách đã dẫn. ↩︎