Ngày xưa có người lái buôn tên là Vạn Lịch. Hắn ta buôn to, giàu có vào hạng
nhất nhì trong nước. Hắn có ngót một trăm chiếc thuyền dùng vào việc chở
hàng. Chiếc thuyền riêng của Lịch có buồng ăn, buồng nằm… không khác gì
nhà ở trên đất. Xung quanh chỗ ngồi trang sức bằng gấm vóc. Đồ dùng toàn
bằng vàng bạc.
Lịch có một người vợ trẻ và đẹp là Mai thị. Trong những lúc đi buôn bán xa,
hắn thường ngờ vợ không thực lòng với mình. Hắn hay xét nét từng ly từng tý
làm cho nàng tuy sung sướng nhưng cũng rất khổ tâm.
Một hôm thuyền của Lịch đậu ở một bãi vắng. Mai thị ngồi trước mũi nhìn ra
ngoài. Bỗng có một người đánh giậm ở đâu đến cạnh thuyền xin một miếng trầu.
Mai thị thấy người đó đóng khố, mình mẩy lấm láp thì thương hại, hỏi thăm mấy
câu rồi lấy mấy miếng trầu trong cơi vàng đem cho. Lịch đang ngủ chợt thức
giấc thấy thế, cơn ghen nổi lên đùng đùng. Chờ cho anh đánh giậm đi khỏi, hắn
gây chuyện với vợ rồi xỉ vả nàng thậm tệ. Mặc dầu Mai thị thề thốt hết lời nhưng
hắn không nghe. Hắn trả xống áo cho nàng, vứt cho một thoi vàng, một thoi bạc
và đuổi đi ngay.
Mai thị bơ vơ một mình trên bãi biển. Nàng gặp lại người đánh giậm bèn gạt
nước mắt kể lể sự tình. Anh chàng đánh giậm ngẩn ngơ cả người, không hiểu ra
làm sao cả. Khi biết anh ta chưa có vợ lại sống một thân một mình, nàng bảo:
- Hắn bảo tôi gian díu với anh. Âu là số tôi không lấy được kẻ giàu sang, tôi
xin lấy anh làm chồng, dù có khổ sở thế nào đi nữa tôi cũng chịu được. Chúng ta
sẽ làm ăn nuôi nhau.
Anh chàng đánh giậm không biết từ chối thế nào cuối cùng dẫn người đàn bà
kia về túp lều của mình dựng bên bờ sông. Và họ trở nên vợ chồng. Hàng ngày
chồng vẫn làm nghề cũ, còn vợ thì ở nhà chăn nuôi gà vịt. Tuy nghèo nhưng họ
sống êm ấm, không xô xát với nhau bao giờ.
1 Chúng tôi bắt chước đề mục này trong Sử Nam chí dị.297
Ba năm trôi qua. Một hôm trời mưa, chồng rỗi việc ở nhà, vợ ngồi vá áo.
Chồng thấy đàn gà thi nhau mổ thóc ở thúng, sẵn có thỏi vàng của vợ trong
thúng khâu, hắn không biết là vật gì liền cầm lấy ném đàn gà. Chằng may ném
mạnh quá thỏi vàng văng luôn xuống sông. Thấy vậy, vợ trách chồng:
- Kìa, người sao mà ngu đần thế! Anh có biết anh vừa ném cái gì không?
Chồng đáp gọn lỏn: - Chả biết.
- Đấy là vàng quý nhất ở trên thế gian đấy.
- Thứ ấy thì thiếu gì. Những lúc bắt cá ở một vũng kia tôi vẫn nhặt được luôn
nhưng không biết dùng làm gì nên lại vứt bỏ.
Đến lượt vợ lại ngẩn cả người, liền hối hả giục chồng đi lấy về. Quả nhiên đó
là vàng thực và lạ thay mỗi thỏi đều có dấu hiệu riêng của Vạn Lịch. Nguyên do
Vạn Lịch từ ngày đuổi vợ, buôn bán có phần thua lỗ. Một chuyến bị bão, thuyền
đắm, Lịch chỉ thoát được thân còn bao nhiêu vàng bạc của cải đều chìm xuống
nước và trôi dạt vào đây. Thế là kho vàng của Lịch lại thuộc về tay vợ chồng
Mai thị.
Từ khi có của, Mai thị bèn xây dựng nhà cửa và sắm ăn sắm mặc cho chồng.
Thấy chồng quá ngờ nghệch, vợ bảo phải năng chơi bời với người ta để học
khôn học khéo hòng mở mặt với đời.
Chồng nghe lời, vào xóm gạ chuyện với mọi người để làm quen nhưng chả có
ai thèm chơi với thằng nghèo lại nổi tiếng đần độn. Luôn mấy hôm liền, hắn đi
không về rồi. Vợ hỏi: - “Đã chơi được với ai chưa?” - “Chưa”. Mai thị lắc đầu
nói một mình rằng: - “Người đâu u mê đến thế. Suốt mấy hôm trời mà không
làm quen được một ai. Họa có chơi với phỗng thì được!”. Nghe nói thế, chồng
tưởng vợ bảo mình không chơi với người thì chơi với phỗng, bèn tìm đến một
ngôi đền vắng ở xa xóm. Hắn lân la toan làm quen với mấy bức tượng phỗng đặt
ở hai bên sân đền. Thấy tượng phỗng nhe răng cười, hắn cũng cười theo, rồi lại
quàng vai bá cổ làm như chơi đùa với người thật. Sau đó hắn đi mua bún lòng về
mời ăn, nhét cho mỗi tượng một miếng vào miệng. Cuối cùng chẳng thấy phỗng
nói gì, hắn tức mình xô phỗng từ trên bệ lăn kềnh xuống đất rồi bỏ ra về. Khi vợ
hỏi, hắn kể lại tình thực. Mai thị giẫm chân kêu trời, đành giữ chồng lại nhà để
dạy khôn cho hắn.
Không ngờ ngôi đền mà anh chàng đánh giậm đến chơi lại là nơi phát tích của
nhà vua. Tự nhiên, sau khi anh đánh giậm xô đổ tượng phỗng: nhà vua bị đau
bại một nửa người. Bao nhiêu danh y được triệu vào cung chữa bệnh cho thiên
tử đều lắc đầu bó tay. Một ông quan thái bốc gieo quẻ báo tin rằng ngôi đền này
động. Lập tức triều đình phái quan tỉnh về làm lễ tạ. Pho tượng phỗng đổ xuống298
đất làm cho họ chú ý. Nhưng khi định dựng tượng dậy thì lạ thay, hàng chục
người mó vào đều nâng không nổi. Quan truyền cho mấy cơ lính dùng đòn dây
xúm vào cùng khiêng nhưng rốt cuộc tượng vẫn không hề nhúc nhích. Tin ấy
bắn về kinh đô, nhà vua rất lo, liền sai yết bảng cho tất cả thần dân ai có phép gì
dựng được phỗng lên bệ thì sẽ hậu thưởng. Hôm ấy Mai thị đi chợ qua đó thấy
bảng yết thế, bèn về hỏi chồng: - Hôm ấy anh làm thế nào đẩy ngã pho tượng xuống được?
Hắn đáp: - Tôi chỉ khẽ ẩy một cái là đổ ngay.
- Thế bây giờ có dựng lên được không?
- Làm gì mà chả được.
Vợ bèn cùng chồng ra giật bảng xin quan cho vào nâng thử. Quả nhiên khi
người đánh giậm mó tay vào tượng liền đứng lên được.
Từ hôm đó nhà vua khỏi bệnh. Vua sai lấy vàng bạc thưởng cho vợ chồng Mai
thị nhưng họ không nhận, chỉ xin làm một chân tuần ty ở sông Cả. Chức vụ tuần
ty chỉ ngồi thu thuế không cần biết chữ. Vua ưng cho ngay. Hai vợ chồng liền đi
nhậm chức. Sẵn vàng bạc, họ đưa ra xây dựng nhà cửa rất nguy nga ở bên cửa
sông. Từ đó họ nổi tiếng giàu có trong vùng.
Một hôm, thuyền của Vạn Lịch đi qua đây, đỗ lại ở cửa tuần cho người lên
nộp thuế. Mai thị biết vậy liền ra lệnh bắt chủ phải thân đến nộp. Tiến vào công
đường, Lịch xiết bao kinh ngạc khi thấy ngồi trước án là người vợ cũ của mình
cùng anh chàng đánh giậm ngày xưa. Mai thị mỉa mai bảo hắn:
Biết rằng anh vẫn đi buôn,
Em về kiếm chốn nha môn ngồi tuần.
Dù anh buôn bán xa gần,
Làm sao tránh khỏi cửa tuần em đây.
Nghe câu ấy, Vạn Lịch vô cùng xấu hổ. Hắn từ tạ trở về thuyền. Vừa thẹn vừa
uất, hắn nghĩ không còn mặt mũi nào nhìn lại vợ lần nữa. Đoạn hắn làm giấy kê
khai tất cả của cải đem biếu Mai thị nói là để chuộc lỗi xưa, rồi đâm cổ tự tử.
Mai thị thấy vậy lấy làm hối hận. Sau đó nàng đem bao nhiêu tài sản của Vạn
Lịch, tâu vua xin đúc một thứ tiền gọi là “tiền Vạn Lịch” rồi đem phân phát cho
những người nghèo khổ.
Ngày nay thỉnh thoảng người ta vẫn còn nhặt được một vài đồng tiền đó.
Người ta còn có câu hát:
Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng,299
Anh tiếc công anh gian díu với nàng bấy lâu1.
KHẢO DỊ
Theo người khác kể thì truyện trên còn có một đoạn đầu như sau:
Vạn Lịch người đời Tống nhờ vốn liếng của vợ mà buôn bán trở nên giàu có
lớn. Nhưng khi làm nên, hắn thấy vợ không còn nhan sắc nữa nên có ý định tống
cổ vợ đi, bèn nhân một hôm vợ trò chuyện với anh đánh giậm, vu cho là ngoại
tình, rồi truyện tiếp diễn cũng như trên vừa kể, trừ một vài tình tiết đại đồng tiểu
dị2.
Người Nghệ-an kể truyện này như sau:
Một người làm nghề câu cá hàng ngày đứng câu ở chỗ núi đá cửa biển. Ở đó
có hòn đá to cao hình người gọi là đá Tượng Bụt. Lúc nào câu xong ra về, người
ấy cũng chào tượng đá: - “Kính ông ở lại”. Có vợ một người buôn mành giàu có,
nhân thuyền đỗ gần đấy thấy anh câu đói rét nên thương hại, bị chồng đạp ngã
xuống nước đuổi đi. Người đàn bà đành phải lấy người đi câu (nhưng không có
chuyện được vàng). Từ đấy làm ăn khấm khá, cho là tượng Bụt giúp.
Ai ngờ Bụt đá mà thiêng,
Nhờ ơn đặt gánh đặt triêng3 cho mình.
Lúc đã giàu có, nhớ ơn tượng Bụt, anh câu mới bảo vợ làm bữa rượu thết.
Đoạn rồi cũng: - “Kính ông ở lại”. Không ngờ đá say ngã xuống nước và cũng
“động” đến nhà vua. Vua cũng hứa phong chức quan cho kẻ nào dựng được đá
dậy. Người đi câu lại làm bữa rượu nữa đưa đến: - “Ông say đã tỉnh chưa, mời
dậy uống với tôi”. Đá tự nhiên trở lại chỗ cũ. Người đi câu được làm quan trấn
thủ, rồi hai vợ chồng cũng gặp người chồng cũ vào nạp thuế, v. v…4
Một truyện khác Thiên lực không phải nhân lực có nội dung tương tự nhưng
chủ đề thì hầu như trái ngược. Đây là một truyện có bàn tay của nhà nho nhằm
đề cao chủ nghĩa định mệnh:
Có một người làm quan lớn trong triều. Hắn cho rằng sở dĩ mình làm nên là
nhờ ở sức mình chứ không nhờ ai cả. Vì thế hắn có làm một cái biển đề hai chữ
“Nhân lực” treo ở giữa nhà. Người vợ bé của hắn không cho là đúng, chờ lúc
1 Theo Nước non tuần báo.
2 Theo Lê Doãn Vỹ. Sách của trẻ nhỏ (1941).
3
Triêng đòn gánh, tiếng Nghệ - Tĩnh.
4 Theo Bản khai xã Vĩnh-an.300
chồng đi vắng mới viết vào hai nét ở chữ “nhân” thành chữ “thiên”. Chồng về
hỏi vợ. Vợ nói: - “Người ta sinh ra mệnh hệ ở trời, mọi sự nhờ trời, chứ không
phải sức người mà được”. Chồng tức mình, nói: - “Tao đây cực khổ từ bé tới
lớn, học hành hết hơi hết sức mới được như vầy, có thấy trời giúp gì đâu. Mày
đã nói thế để coi sức trời giúp cho mày thế nào”. Bèn đuổi vợ đi.
Vợ bèn khấn: - “Hễ chính ngọ ra đường gặp người đàn ông nào, sẽ lấy người
đó làm chồng”. Sau đó nàng kết duyên với một người đi câu cá. Từ đây câu
chuyện giống với truyện trên nhưng không có việc được vàng. Vợ lấy tiền riêng
sắm ăn sắm mặc cho chồng; lại bảo đi chơi với người ta cho hiểu việc đời.
Chồng và chùa đánh bạn với tượng Phật. Câu chuyện cũng kết thúc bằng việc xô
ngã tượng Phật và sau đây trong vùng trong sinh ra ôn dịch. Vua ra lệnh ai dựng
được tượng lên sẽ cho làm quan to. Chồng dựng lên được. Lúc hai vợ chồng trẩy
kinh thì gặp người chồng cũ1.
Truyện thứ hai gần giống với cả hai truyện trên:
Một ông quan huyện một hôm hỏi bà vợ xem họ nhờ ai. Khác với câu trả lời
của hai người vợ trước, người vợ thứ ba cho là nhờ trời. Cũng như hai truyện
trên, người vợ thứ ba bị đuổi và sau đó kết duyên với một người đánh giậm. Khi
hai vợ chồng trở nên khá giả (không có chuyện được vàng), vợ khuyên chồng
nên tìm người hiền - người không hay nói - mà kết bạn. Chồng kết bạn với
phỗng, cho phỗng uống rượu say, xô ngã phỗng và chỉ mình anh ta mới làm cho
phỗng đứng dậy được. Đoạn kết có thêm tình tiết là: Về sau có giặc, vua hạ
chiếu cầu hiền. Vợ giục chồng ứng mộ. Nhờ phỗng giúp ngầm, chồng thắng
được giặc; vua bắt dân đi đón cả hai vợ chồng về triều. Nhìn thấy võng kiệu của
người vợ cũ đi qua, quan huyện đâm đầu xuống sông tự tử2.
Một truyện khác do người Hà-tĩnh kể nhan đề là Người đốt than:
Một phú ông một hôm hỏi ba cô con gái: - “Các con nhờ vả ai nhiều nhất?”.
Chỉ có cô con gái út trả lời:
Nhỏ thì nhờ mẹ nhờ cha,
Một mai khôn lớn nhờ ra lộc chồng.
Phú ông tức lắm, định gả con gái út cho một người nào nghèo đói nhất để xem
nó nhờ cậy vào đâu. Gặp một người ăn mày, phú ông hỏi cuộc sống sướng khổ
thế nào? Người ăn mày đáp:
Bị cắp nách, gậy cầm tay,
Trăm nghề không gì sướng bằng ăn mày.
1 Theo Trương Vĩnh Ký. Sách đã dẫn.
2 Theo Truyện cổ dân gian của các dân tộc Việt-nam, tập III.301
Phú ông cho là còn sướng, không gả. Gặp một người đốt than, hỏi, thì anh ta
đáp:
Nhờ trời cứ nắng chang chang,
Cha con kiếm củi dệt than no lòng.
Trời làm một trận mưa giông,
Cha con đắp chiếu nằm không suốt ngày.
Bèn gả con gái cho người ấy. Bà mẹ thương con cho giấu một quà cau bằng
vàng. Một hôm vợ đi vắng, chồng ở nhà chơi với con. Thấy con khóc, chồng lấy
quả cau vàng cho con chơi. Không ngờ con đánh rơi mất. Bị vợ nhiếc móc,
chồng cho biết trên rừng có một chỗ không thiếu gì thứ của ấy. Kết quả hai vợ
chồng trở nên giàu có như các truyện trên. Phú ông thấy con giàu tới thăm, con
nói:
Vàng cha, cha để trên đền,
Vàng con, con để ngoài thềm đốt than.
Phú ông thẹn chết ngay giữa sân1.
Người Khơ-me (Khmer) có truyện Mê-a-dơng, cũng là một dị bản của truyện
Đồng tiền Vạn Lịch:
Một người đánh cá thật thà và nghèo khó có một người vợ rất đẹp nhưng tham
và lười. Một hôm hai vợ chồng đi kiếm cá nhưng không được gì cả. Cạnh đấy là
có một chiếc thuyền của hai vợ chồng người nhà giàu. Thấy họ bắt mãi không
được cá, người vợ tỏ ý thương hại. Chồng bảo: - “Mày thương thì đi với nó, tao
đổi mày lấy người đàn bà kia!”. Nói rồi hắn làm ngay, gọi người đánh cá lại, đòi
đổi vợ và buộc phải đổi vì hắn thấy vợ người kia đẹp.
Vợ người nhà giàu tay không về với chồng mới, nhưng chẳng bao lâu nàng đã
làm cho chồng trở nên khá giả. Có tiền, nàng kiếm cho chồng một chân lính hầu
ở triều đình. Một hôm, vua đi săn, người chồng theo hầu vua. Vợ sắm sửa thức
ăn cho chồng mang theo và dặn nếu vua có lạc đường thì cố đi theo mà bảo vệ.
Quả nhiên vua bị lạc, anh ta lẽo đẽo đi theo xa xa, vua gọi anh là Mê-a-đong
(chú kia). Anh chạy tới quỳ dâng cơm rồi nước, trầu mời vua ăn, vua ăn mỗi
thức đều khen ngon. Vua ngủ ở một ngôi đền của một hung thần, hung thần bàn
với bộ hạ báo thù vua. Anh đánh cá nghe được lời bàn của họ, vội đánh thức vua
dậy, đưa vua về. Nhờ anh, vua thoát được ba cái nạn lớn do hung thần gây ra.
Nạn thứ ba mà anh cứu là giết một con rắn hổ mang bò vào toan cắn vua. Thấy
máu rắn bắn lên ngực hoàng hậu, anh không dám chùi chỉ dùng lưỡi liếm trong
1 Theo lời kể của người Hà- tĩnh và Cổ tích và tiểu dẫn (bản thảo của Mạnh Sào Quan) Xem
thêm truyện Trạng Ếch ở Khảo dị truyện Lê Như Hổ (số 63)302
khi hoàng hậu ngủ. Hoàng hậu tỉnh dậy hô hoán, vua lập tức truyền đao phủ đưa
anh ra pháp trường xử tử, nhưng vì đêm khuya, dắt ra bốn cửa thành đều bị quân
canh ngăn trở (ở đây có thêm ba câu chuyện và một bài thuyết lý của bốn người
gác cổng đều ngụ ý nói về việc giết oan kẻ vô tội, sau ăn năn thì đã muộn). Giữa
lúc ấy nhà vua nghĩ lại công lao của anh, vội truyền lệnh cho đao phủ ngừng
chém. Thoát chết, Mê-a-dong và vợ trở thành người có quyền thế giàu sang.
Trong khi đó thì người nhà giàu và vợ cũ của người đánh cá phung phí hết của
cải, phải đi ăn xin. Một hôm, đến ăn xin ở nhà Mê-a-dong, bị vợ chồng nhà này
nhận mặt, cả hai xấu hổ vô cùng1.
Người Ba-na (Bahnar) có truyện Bi-a Nát giống với truyện Người đốt than của
ta:
Hai vợ chồng nhà giàu có tám con gái. Một hôm mẹ hỏi các con muốn lấy ai?
Ai nấy đều nói ước muốn của mình là làm vợ một người giàu có quyền thế, chỉ
riêng cô út thích lấy người đốt than. Mẹ giận, cho một cục vàng và đuổi di. Bi-a
Nát lên rừng, tìm mãi, cuối cùng mới gặp được một anh đốt than nghèo khổ, ngờ
nghệch và “đen như lông quạ”. Họ ăn ở như vợ chồng. Một hôm chồng lấy cục
vàng của vợ ném gà. Khi bị vợ la, anh chỉ cho vợ chỗ lắm vàng. Từ đó hai người
trở nên giàu có. Anh đốt than còn được tiên ông bày cách làm cho thân mình trở
nên trắng trẻo, đẹp đẽ. Anh mặc áo khố đẹp cưỡi ngựa về làng vợ, mời bố vợ và
cả nhà lên dự lễ cưới. Lễ cưới tổ chức bảy ngày bảy đêm. Nghe con gái nói
chồng mình làm nghề đốt than, bà mẹ hối hận và xấu hổ vô kể2.
Người Xơ-dăng có truyện Bốc Cơ-lốc cũng giống với truyện trên nhưng có
phát triển thêm một số hình tượng khác: Một tù trưởng một hôm hỏi bảy con gái: - “Thích ở với bố mẹ hay thích theo chồng?”. Chỉ có cô gái thứ tư trả lời thích ở
với chồng, bị bố đuổi di. Mẹ thương con, dúi cho con một hạt vàng. Cô gái lấy
anh chàng đốt than tên là Cơ-lốc. Thế rồi chồng cũng ném vàng cho gà ăn vì
không biết giá trị của vàng, nhưng sau đó lại mách cho vợ một chỗ có nhiều
vàng. Khi giàu có, vợ muốn làm ngôi nhà bằng vàng bèn sai chồng về kinh
thành mua khuôn đúc. Dọc đường, trong khi trọ ở nhà hàng, Cơ-lốc đã dùng
mưu trộm được đôi giày thần và chiếc gậy thần của một con quỷ. Với chiếc gậy
thần, anh đã giết quỷ và cứu người; với đôi giày thần, anh bay lên trời rồi về
kinh. Anh đã đổi đôi giày cho vua lấy một ngàn con trâu và đưa đàn trâu ấy về
bằng cách nhổ mỗi con một cái lông nhét vào đục đạc, rồi khi đến nhà lắc đục
đạc, mỗi chiếc lông tung ra biến thành một con trâu. Từ ngày trở nên giàu có, vợ
Cơ-lốc mời bố mẹ mình đến chơi. Tù trưởng bắt phải làm một con đường lát
bằng nồi đồng. Khi đến thấy con giàu có hơn mình, tù trưởng phát tức mà chết3.
1 Pa-vi (Pavie). Truyện dân gian Căm pu-chia, Lào và Thái-lan.
2 Theo Truyện cổ dân gian của các dân tộc Việt-nam, tập IV.
3 Theo Truyện cổ dân gian của các dân tộc Việt-nam, tập III.303
Một truyện khác của người miền Bắc cùng một kết cấu với các truyện trên
nhưng đã được nho sĩ tô điểm để đề cao việc học hành thi cử.
Xưa ở Phủ-lý (Thanh-hóa) có một người con thầy chùa nhà nghèo, tuổi đã ba
mươi không được đi học. Cùng làng có một cô gái con phú ông có nhan sắc,
nhiều nơi hỏi mà không chịu lấy. Phú ông một hôm mắng con và bảo: - “Bao
nhiêu đám môn đăng hộ đối không lấy, phải chăng muốn lấy con thầy chùa?”.
Con gái đáp: - “Cha mẹ đặt đâu, con xin ngồi đấy!”. Bố giận lắm, lập tức gọi con
thầy chùa đến gả ngay, không cho một tý hồi môn nào cả, trừ người mẹ có dấm
dúi cho ít nhiều.
Khi về nhà chồng, cô gái đòi ở riêng một mình và buộc chồng phải đi học,
mình sẽ dệt vải nuôi chồng. Nghe có thượng thư Lê Văn Hưu về hưu mở trường
dạy học, cô tới hỏi thầy: - “Thiếp có thóc cũ 30 năm có thể làm giống được
chăng?”. Thầy chưa hiểu nhưng cũng đáp: - “Miễn là lúa tốt!”. Người con thầy
chùa vốn người thông tục, học một biết mười, về sau, đậu tiến sĩ1.
Truyện Tống Trân-Cúc Hoa cũng phần nào giống với truyện vừa kể. Có lẽ tác
giả là nhà văn bình dân đã dựa vào cốt truyện cổ tích để hư cấu thêm:
Tống Trân nhà nghèo dắt mẹ vào nhà phú ông ăn mày. Một trong ba cô gái
của phú ông - Cúc Hoa - đem cho một đấu gạo. Đang trò chuyện thì bị phú ông
bắt gặp. Nổi giận, phú ông đem cô gái gả ngay cho Tống Trân. Cúc Hoa đem
nén vàng của mẹ cho nuôi chồng ăn học. Tống Trân học giỏi, đi thi đậu trạng. Ở
đây phú ông không chết thẹn mà xun xoe nhận chàng rể, người mà trước đây hắn
hắt hủi.
Ở đoạn sau, truyện phát triển vượt ra ngoài khuôn khổ của truyện cổ tích: Vì
không chịu lấy công chúa, nên Tống Trân phải đi sứ Trung-quốc mười năm. Ở
đây chàng lại đậu trạng lần nữa, lại một lần nữa từ chối đề nghị kết hôn của con
vua Trung-quốc. Nhờ tài trí chàng đã thoát chết mấy lần và mấy lần xử kiện tài
tình2 làm cho người nước ngoài kính phục.
Ở nhà, chờ mãi không thấy rể về, phú ông bắt Cúc Hoa gả cho đình trưởng.
Cúc Hoa nhờ sơn thần liên lạc được với Tống Trân, nhờ đó chàng được giảm
hạn năm tháng. Giữa hôm đình trưởng làm lễ cưới Cúc Hoa thì Tống Trân về.
Chàng trị tội người bố vợ bất lương, sau khi đã cải trang giả làm ăn mày đến với
từng người để tìm hiểu sự thực3.
Người Nùng có truyện A Sún Phàng Khim: cũng cùng một chủ đề nhưng có
chỗ hơi khác về hình tượng.
1 Theo tạp -chí Nam phong (phần chữ Hán) (1929).
2
Xem truyện Kiện ngành da (số 57)
3 Theo Tống Trân - Cúc Hoa.304
Phăng Khim nhà nghèo, mồ côi bố mẹ, ở với bà nội. Bà cháu chung nhau một
cái quần, thay nhau mặc khi phải ra chợ. Sau góp tiền đi củi mua được một cái
quần, một con dao. Vì bắt con tinh rái cá cứu người, anh bị mất cả quần lẫn áo.
Sau đó đi làm nghề nhặt phân, ngủ ở vỉa hè nhà một ông quan tên là Dèn Vản. A
Sún, cô con gái Dèn Vản thấy anh rét muớt thì thương tình bèn lấy áo đắp cho,
không ngờ lấy nhầm phải áo mới. Sáng dậy Dèn Vải bắt được anh, tưởng có tình
ý với con gái, toan chém. Cô gái nhân lúc vắng, cởi trói cho anh, rồi cả hai rủ
nhau đi trốn, và kết làm vợ chồng. Vợ có dắt lưng được 2 thoi vàng. Khi hết
lương ăn, vợ giao vàng cho chồng đi mua bán, chồng đem ném chó làm mất
vàng. Bị vợ mắng, anh nói có một chỗ có rất nhiều thứ đó. Bèn dẫn vợ đến một
cái hang. Và lần lượt nhặt về nhưng không cho chồng biết. Giàu có, vợ thuê thợ
làm nhà. Nhà làm xong nhưng không có cửa nào vừa cả. Phàng Khim ngủ ở
phiến đá, phiến đá báo mộng bảo đưa đá về lắp thi vừa. Anh làm theo. Không
ngờ từ đấy mỗi lần mở cửa, vàng bay vào rào rào. Vợ phải đóng chặt kẻo sợ
vàng về nhiều quá. Một hôm hai vợ chồng mời bố mẹ vợ đến nhà. Dèn Vản đòi
có chiếu hoa trải đường mới đi. Đến nơi còn đòi mở cửa chính mới vào. Cửa mở
ra, vàng rơi vào đầu, Vản chết. Mẹ vợ vui vẻ ở lại với chàng rể và con gái1.
Giống với các truyện của ta, người Triều-tiên có truyện Vợ người nô lệ:
Một quan thuợng có cô con gái đẹp cấm cung, không ngờ tới tuổi biết yêu, cô
lại yêu một nô lệ. Hay tin, quan xử tử người nô lệ và đuổi cô ra khỏi nhà. Thấy
con không chịu đi, quan bèn sai lính đi tìm một người nghèo nhất. Lính đưa về
một người kiếm củi. Quan hỏi: - "Có muốn lấy con ta không?‘’ Người kia trả lời: - “Có”. Bèn gả ngay, bắt đưa vợ về rừng. Đến nhà chồng cô thấy trống rỗng. Ba
mẹ bảo cô hàng ngày gánh củi đi đổi lấy kê. Một hôm vợ phát hiện thấy móng
tường toàn đắp bằng vàng khối, bèn bảo chồng gỡ một hòn ra tỉnh bán. Chồng
mang về được nhiều tiền. Từ đấy bán tất cả. Vợ nuôi thầy dạy chồng học. Sau
mười năm chồng trở nên giỏi hơn cả bố vợ. Vợ lại mua cho chồng một chân
thượng thư. Sau đó bố vợ phải muối mặt đến mừng chàng rể2.
Người Mèo có truyện Hòn gạch nên vợ chồng:
Có hai bố con nhà nghèo sáng đi làm thuê tối ngủ nhờ ngoài hè nhà người.
Con đã lớn nhưng chưa vợ vì con gái không ai thèm lấy. Khi bố sắp chết, dặn
con chôn mình tại một gò nọ, hễ thấy gì lạ thì mang về mà sinh sống. Thoạt đầu,
mộ mọc cỏ rất tốt, anh cắt về bán cho các nhà nuôi ngựa. Sau đó hết cỏ, trên mộ
lại mọc lên một đống gạch màu vàng. Anh lấy một hòn để gối đầu. Con gái lão
nhà giàu cấm cung, thấy chàng trai ngủ nhờ ở hè có phát ánh sáng, bèn lấy áo từ
trên lầu quẳng xuống cho đắp. Sáng dậy, cô hỏi tung tích hòn gạch gối đầu. Anh
1 Theo tạp chí Nghiên cứu văn học số 10 (1961).
2 Theo Ga-rin (Garine). Truyện cổ tích Triều-tiên.305
chỉ nơi có ngôi mộ, đến xem thì chỉ là những hòn gạch bình thường. Tuy vậy cô
cũng xin bố cho lấy anh chàng. Người bố can không được, đuổi đi.
Hai vợ chồng đưa nhau đi nơi khác ở. Lần lượt họ đưa đống gạch về xây được
chín gian nhà. Gạch còn thừa bỏ lại một đống chỉ ít lâu hóa thành vàng bạc. Hai
vợ chồng giàu có, đưa vàng bạc về cho bố mẹ vợ chở lên lưng 3 con ngựa. Thấy
anh đến từ đàng xa, người bố vợ sai đóng cửa lại thật chặt vì ngỡ rằng rể đến đòi
tiền. Vợ chồng thấy cửa đóng, phá cửa vào đặt bạc ở bàn rồi đi. Bố mẹ hoa cả
mắt, nhưng từ đấy ăn tiêu phung phí, dần dần trở nên nghèo đói, phải cải trang
làm người Xạ Phang đi làm thuê kiếm ăn mỗi người một phương. Còn vợ chồng
con gái thì ngày một giàu có, bản làng ngày một đông vui. Ba năm sau một bà
Xạ Phang đến làm thuê. Ba năm sau nữa lại một ông già Xạ Phang đến làm thuê.
Họ nhận ra nhau là vợ chồng nhưng lại không nhận ra nơi ấy là nhà của con gái
mình. Về phía con gái cũng không biết là bố mẹ. Sau đó một thời gian họ mới
nhận ra nhau. Bố vợ xấu hồ quá ăn lá ngón mà chết1.
Người Ấn-độ có một truyện nội dung tuy khác nhưng cũng là một dị bản của
các truyện trên:
Một ông vua sinh được bảy công chúa. Một hôm, vua hỏi: - “Các con yêu cha
ra làm sao?”. Sáu công chúa trả lời: - “Ngọt như đường”, trừ một công chúa út
trả lời là: - “Như muối”. Vua giận sai người cáng bỏ vào rừng sâu.
Công chúa đi lần mò bỗng gặp một tòa lâu đài, bạo dạn tiến vào thì thấy có
một người nằm bất động, xem lại thấy bị kim đâm khắp cơ thể. Công chúa bèn
ngồi xuống nhổ kim ra, và làm việc đó quên ăn quên ngủ suốt một tuần. Vừa khi
có một người bán một nữ tỳ, công chúa lấy vòng vàng ra mua người nữ tỳ cho
có bạn. Lại nhổ trong hai tuần nữa mới hết kim, nhưng không biết rằng trong
con mắt còn có kim chưa nhổ hết. Cho là đã xong hẳn, công chúa bảo nữ tỳ tắm
cho người ấy. Trong khi tắm thì người nữ tì phát hiện ra kim ở mắt, bèn nhổ nốt.
Nhổ vừa xong người đó liền ngồi dậy thì ra là một vị vua. Vua hỏi - “Ai cứu
ta?”. Nữ tỳ đáp: - “Tôi”. Vua cảm ơn và lấy nữ tỳ làm vợ. Khi công chúa vào, nữ
tỳ bảo vua đó là nữ tỳ của mình.
Một hôm, vua sắp sửa đi đổi gió, bảo vợ cần gì để mình mang về. Vợ bảo: -
“Mang về cho tôi áo xống và trang sức đẹp!”. Vua lại hỏi nữ tỳ (tức công chúa)
muốn gì. Nữ tỳ đáp: - “Cái mà tôi muốn, vua không thể tìm được đâu, nên tôi
không xin” - “Cứ xin đi, cái gì ta cũng có thể lấy được”. - “Vậy thì cho tôi xin
một hộp nữ trang của mặt trời”.
Vua đi khắp nơi không tìm được vật người nữ tỳ cần, cuối cùng nhờ phép của
một đạo sĩ, và sự giúp đỡ của một nàng tiên mà có hộp nữ trang của mặt trời.
1 Theo Doãn Thanh Thương, Nguyễn Hoàng Thao. Truyện cổ dân tộc Mèo.306
Khi được hộp, nàng vào rừng, nửa đêm mở hộp ra. Từ trong hộp có bảy nàng
tiên nhảy ra: người thì chải tóc, người sửa áo, người hát, người múa, trong khi
đó, nàng khóc sướt mướt suốt đêm. Sáng dậy, các nàng tiên hỏi vì sao mà khóc.
Nàng kể lại sự việc người nữ tỳ tranh công và thay đối địa vị. Các nàng tiên an
ủi rồi chui vào hộp.
Đêm sau, nàng lại đi. Sự việc diễn ra như đêm hôm qua. Nhưng không ngờ
trên ngọn cây có một người hái củi vì về muộn nên trèo lên nghỉ ở đó. Người hái
củi nghe và thấy mọi việc. Đêm sau nữa lại thấy như thế, nên chàng vào cung
mách vua. Vua được người tiều phu đưa đi nấp trên ngọn cây, tận mắt thấy sự
thật, bèn xuống cây, bảo nàng: - “Ta vốn ngờ nàng là công chúa không phải là
nữ tỳ”. Lại hỏi nàng có muốn làm vợ vua không? Nàng đáp: - “Có”.
Lúc cử hành lễ cưới, công chúa cho mời bố mẹ và các chị tới dự. Cả một tuần
liền, nàng chỉ dọn cho họ ăn những món ăn nấu với đường làm họ ngấy hết sức.
Sau đó dọn một món ăn nấu với muối, mọi người cảm thấy ngon lành. Vua cha
bấy giờ mới hiếu rõ ý nghĩa câu con gái nói ngày xưa: Công chúa yêu cha mặn
mà vì muối là một vật mà người ta không thể nào bỏ được.
Người Bec-be-rơ (Beberes) Ở Ma-rốc (Maroc) cũng có truyện nói về một ông
vua hỏi ba con gái xem có thương mình không. Câu trả lời của cô thứ nhất là: -
“Con yêu cha như vàng”. Cô thứ hai: - “Yêu như kim cương”. Cô thứ ba: - " Yêu
như muối". Vua cũng đuổi con đi, bảo: - “Cút ngay! Mày không phải con tao!”
Cô gái đi lang thang, cuối cùng vào làm việc rửa bát cho một ông vua khác và
học nghề nấu ăn, dần dần thành người nấu ăn cho vua.
Một hôm vua này mở hội mời vua láng giềng, cha cô gái, tới ăn. Cô này xin
được nấu ăn cho khách và không bỏ muối vào thức ăn. Dọn đĩa ra, cô bỏ nhẫn
của mình vào, bưng lên cho khách. Vua ăn lấy làm ngạc nhiên vì quá nhạt. Xem
lại đĩa, thì tìm thấy chiếc nhẫn, vua nói: - “Dẫn cô gái nấu đĩa thức ăn này ra
đây” - Nhận ra con, vua ôm lấy âu yếm và đưa về nhà1.
Cái ngốc của anh chàng đánh giậm hay của anh chàng câu cá ở hai truyện trên
kia cũng có phần giống với cái ngốc kể trong một loạt truyện cổ tích có tính chất
khôi hài sau đây:
Truyện Jăng, thằng ngốc của Pháp:
Một chàng ngốc được mẹ sai ra tỉnh bán một tấm vải và dặn mua một cái
kiềng ba chân. Dọc đường, hắn vào quỳ trong nhà thờ thánh Jăng. Thấy pho
tượng, hắn cho là ông ta rét run, bèn quàng tấm vải vào cho tượng. Gần tượng ấy
có một tượng khác có điệu bộ giơ tay mà một người đàn bà nào đó đã bỏ vào
lòng bàn tay một đồng xu. Tưởng là tượng ấy trả tiền hộ hắn bèn nhận lấy. Khi
1 Theo Cô-xcanh (Cosquin). Những truyện cổ tích Ấn-độ và phương Tây.307
về, qua một hiệu bán đồ sắt, hắn chọn một cái kiềng, quẳng lại đồng xu, rồi
chạy. Trèo lên một đoạn đường dốc, hắn mệt quá nói: - “Mình ngu quá, hắn (cái
kiềng) có những ba chân, mà mình thì chỉ có hai, tội gì mà phải khiêng nó”. Nói
rồi bỏ kiềng ở giữa đường mà về không.
Truyện của người Nga:
Một người trẻ tuổi đi bán một con bò. Qua một cây cổ thụ, bỗng có một trận
gió rung. Anh ta tưởng cây hỏi mua bò, bèn để con vật lại, mai sẽ đến lấy tiền.
Mai đến thì bò đã mất, đòi nợ cây, cây không trả lời. Tức mình anh cầm búa chặt
cây thì không ngờ trong gốc cây có cả một kho của mà một bọn trộm giấu trong
đó.
Truyện kể trong sách Pen-ta-mơ-ron (Pentameron):
Một người mẹ bảo con tên là Jăng ngốc mang vải ra chợ nhưng dặn đừng bán
cho những người lắm lời. Con đáp: - “Mẹ cứ yên trí”. Thế là bao nhiêu người
đến hỏi mua, hắn không bán vì cho rằng ai cũng lắm lời cả. Xách vải về đến nhà
thờ thấy có một tượng đá, hắn đến gần giơ vải ra hỏi: - “Có mua không?”. Nhờ
gió thổi làm cho đầu tượng đá hơi đưa đi đưa lại, hắn tưởng là người đó bằng
lòng mua, bèn đặt vải vào tay, rồi về kể chuyện cho mẹ hay và nói: - “Con bán
cho ông ấy vì ông ấy không hay nói”. Mẹ bảo hắn chạy ngay đi lấy vải về. Hắn
chạy đến thấy vải vẫn còn ở tay pho tượng bèn nói: - “Trả mau”. Lúc này gió lay
đầu hơi lắc về phía trái làm cho hắn tưởng là tượng không muốn trả - “À, không
trả à”. Hắn nói thế, rồi cầm gậy vụt túi bụi vào tượng, đoạn cướp lấy vải chạy về.
Chàng ngốc trong truyện do người miền Buốc-gô-nhơ (Bourgogne) kể, thì sau
khi bán vải cho tượng, trở lại đòi tiền không được, hắn đập vỡ pho tượng, không
ngờ thấy ở đế tượng có một kho vàng.
Truyện của người Brơ-tông (Breton) cũng tượng tự nhưng còn thêm một đoạn
kết: Mẹ Vac-di-en-lô sợ con ngu ngốc làm lộ chuyện tìm thấy kho vàng ở đế
tượng, sẽ bị quan trên tịch thu, bèn nghĩ ra một mẹo. Sau khi lấy kho vàng về, bà
bảo con ngồi chơi trước cửa nhà rồi đứng nấp từ trên cao,vãi xuống những quả
vả và nho khô cho nó nhặt.
Sau con quả làm lộ chuyện, việc mang đến trước quan án. Người ta tra vấn
đứa con tìm được vàng vào hôm nào? Nó đáp: - “Vào hôm trời mưa ra nho khô
và vả”. Người ta tưởng nó điên nên không tra gạn nữa1.
Truyện của Việt-nam Ngốc buôn mắm tôm:
Một chàng ngốc vô công rồi nghề, mẹ bảo đi buôn. Ngốc ta nghe nói buôn
mắm tôm có lãi bèn đi mua về một gánh. Rao khắp nơi chẳng ai gọi. Qua một
ruộng khoai môn, sau khi cất tiếng rao thấy lá khoai môn đung đưa, Ngốc hỏi: -
1 Theo Cơ- xcanh (Cosquin). Truyện cổ tích dân gian miền Lo-ren.308
“Mua hả?”. Lá vẫn đung đưa như kiểu gật đầu. Ngốc tưởng là bằng lòng liền
múc cho mỗi lá một muôi. Múc xong, hỏi: - “Tiền?”. Thấy lá đung đưa Ngốc
hỏi: - “Chịu hả?” bèn quảy gánh về. Sáng dậy. Ngốc đến ruộng đòi tiền: - “Giả
tiền đây!” Lá đung đưa như kiểu lắc đầu. - “À chúng mày quỵt hả?”. Nói đoạn
cầm đòn gánh vụt cho tan tác. Bất đồ người chủ ruộng khoai môn đi qua thấy
vậy, bèn nắm lấy áo Ngốc bắt bồi thường1.
Về tình tiết làm đổ tượng không nâng dậy được, xem thêm truyền Vua Heo (số
- tập III).
1 Theo lời kể